Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Mộc Châu là một tỉnh miền núi phía Bắc với sự tập trung các dân tộc thiếu số lớn của nước ta. Các dân tộc sống xen kẽ trên bản làng với những nét văn hoá truyền thống khác nhau, họ sống đoàn kết và thường xuyên giao lưu với nhau. Một trong những dân tộc đông đảo và được chú ý nhiều nhất là dân tộc Mông.

Dân tộc Mông hay người ta còn gọi là dân tộc Mèo, Mẹo, Miếu Hạ, Mán Trắng cũng sống ở khắp nơi trên bản làng nhưng thường vẫn tập trung nhiều nhất tại một địa điểm cụ thể. Người Mông sống theo các nhóm địa phương như Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh hat Na Miẻo .

Người dân tộc Mông thì sủ dụng ngôn ngữ theo hệ Mông – Dao, chính ngôn ngữ này cũng làm lên sự khác biệt trong văn hoá của họ và là cách để phân biệt với các dân tộc khác.

kham pha net van hoa cua nguoi dan toc mong5 Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Người phụ nữ Mông ngồi dệt vả bên khung cửu.

Hoạt động sản xuất của người Mông ở Mộc Châu: Họ trồng lúa, ngô, lúa mạch trên nương xen canh cùng những cây lương thực ngắn hạn như khoai, rau, lạc, vừng, đậu…Họ dùng Trâu, bò để cày ruộng và chiếc cày của họ nổi tiếng bền và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trước đây, người dân tộc Mông còn trồng lanh, thuốc phiện nhưng chúng đã bị xoá bỏ khi chính quyền can thiệp để nhằm cho cuộc sống của họ phát triển lành mạnh. Bên cạnh cây lương thực, họ cũng trồng cây ăn quả như táo, lê, đào, mận mang lại giá trị kinh tế cao. Người con gái Mông còn biết dệt vải lành, chúng trở thành một trong những hoạt động sản xuất chính.

Trên vải lanh được người Mông vẽ nhiều những hoạ tiết hoa văn độc đáo, đặc trưng thể hiện cuộc sống cũng như nét văn hoá của họ. Người phụ nữ Mông dùng một chiếc bút chấm sáp ong nóng chả để vẽ vào những hoa văn trên tấm vải lanh trắng. Sau đó vải lanh sẽ được nhúng vào nước nóng cho sáp ong tan ra và để lại màu trắng trên nền chàm xanh.

Về hoạt động chăn nuôi: Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép.

Bữa ăn: Một ngày người Mông ăn ha bữa với ngày thường còn vào vụ mùa họ sẽ ăn ba bữa. Bữa ăn thường có mèn mén ( hay chính là bột ngô) hoặc cơm, rau xào và canh.

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ. Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh. Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

kham pha net van hoa cua nguoi dan toc mong Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Người Mông có trang phục rất đẹp.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.

kham pha net van hoa cua nguoi dan toc mong1 Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Người phụ nữ Mông đẹp, hiền hậu bên trang phục truyền thống của họ.

Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Chợ: Chợ của người Mông họp theo phiên, chợ không chỉ là nơi để người dân mang đồ ra bán, trao đổi, không chỉ đi chợ chỉ là mua đồ. Những phiên chợ người Mông còn là nơ để gặp gỡ anh em, bạn bè trai gái.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Mỗi gia đình Mông đều có bàn thờ ở gian giữa nhà. Biểu trưng cho nơi thờ là vài tờ giấy bản có tráng kim ở giữa đóng trên vách được thay vào dịp Tết hàng năm. Mỗi khi cúng người ta lấy lông gà chấm vào tiết rồi dán lên tờ giấy bản đó.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ… như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ… Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

kham pha net van hoa cua nguoi dan toc mong3 Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Người dân tộc Mông có tục cướp vợ.

 Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống. Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch). Ngày Tết, trai gái Mông vui chơi ca hát, múa khèn, tung còn, đánh cầu lông gà, đánh quay. Chơi quay là một trò chơi phổ biến ở hầu hết các dân tộc ở miền Bắc, nhưng mỗi dân tộc có cách đánh quay riêng.

kham pha net van hoa cua nguoi dan toc mong4 Nét văn hoá của người dân tộc Mông ở Mộc Châu

Hoạt động văn hoá văn nghệ cũng được chú trọng.

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Ly Ly

Sưu tầm